Thông tin Úc 01

Công dân Úc gốc Việt và Người Việt Tại Úc

Hiện nay, người sinh ra tại Việt Nam đại diện cho cộng đồng người di cư ở Úc lớn thứ 6 trên khắp thế giới, và sau nước Mỹ, Úc là điểm đến phổ biến thứ 2 cho người di cư từ Việt Nam. Úc cũng là một điểm đến để học tập hàng đầu cho sinh viên Việt Nam.

Tóm tắt về Công Dân Úc Gốc Việt và Người Việt Tại Úc

Tổng quan
Làn sóng di cư lớn đầu tiên của người Việt Nam đến Úc bắt đầu giữa thập niên 1970, những người đến phần lớn là những người tị nạn từ sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc. Trong những năm gần đây, đa phần người di cư từ Việt Nam đến nước Úc thông qua diện gia đình, bên cạnh đó, số lượng người di cư theo diện tay nghề đang tăng lên. Trong năm 2010 – 2011, có 29% thị thực thường trú được cấp cho công dân Việt Nam là thị thực tay nghề, tăng lên so với 17% năm 2009-2010.

Hiện nay, người sinh ra tại Việt Nam đại diện cho cộng đồng người di cư ở Úc lớn thứ 6 trên khắp thế giới, và sau nước Mỹ, Úc là điểm đến phổ biến thứ 2 cho người di cư từ Việt Nam. Úc cũng là một điểm đến để học tập hàng đầu cho sinh viên Việt Nam.

Cơ hội kinh tế là một động lực rất lớn cho sự di dân (đặc biệt là người có học vấn) và 27.1% dân số có trình độ đại học cao đẳng của Việt Nam sống ở nước ngoài. Mặc dù sự tăng trưởng vẫn đang tiếp tục ở Việt Nam, nhưng sự phát triển kinh tế trên khắp đất nước không đồng đều và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người là tương đối rất thấp. Điều này là động lực cao cho những công dân Việt Nam rời khỏi đất nước mình để hy vọng tìm kiếm triển vọng kinh tế tốt hơn ở những quốc gia như Úc, nơi mà trên cơ sở tương đương về sức mua, GDP bình quân đầu người cao hơn gấp hơn 20 lần.

Bên cạnh sự phồn thịnh kinh tế của Úc, những chính sách về an sinh xã hội, môi trường sinh sống và nhất là chất lượng và chính sách giáo dục của Úc, được OECD đánh giá là một vài quốc gia dẫn đầu thế giới, cũng là động lực rất lớn cho những gia đình Việt Nam cho con em đến đây học tập và sau một thờigian trưởng thành ở Úc họ trở thành thường trú dân và công dân Úc.

Cộng đồng người dân gốc Việt ở Úc
Cuối tháng 6 năm 2011, có 210 800 người sinh ra ở Việt Nam đang sinh sống ở Úc, nhiều hơn 32% so với báo cáo của Cuộc Tổng điều tra về dân số và nhà ở vào tháng 08/2006. Điều này tương đương với 3.5% dân số ở Úc sinh ra ở nước ngoài và 0.9% tổng dân số Úc.

Đối với những người di cư sống ở Úc sinh ra ở Việt Nam:

  • Độ tuổi trung bình 42.1, cao hơn độ tuổi của dân số Úc là 5 năm.
  • Nữ giới đông hơn nam giới: 53% so với 47%
  • Vào tháng 11/2011, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của họ là 61%, khá thấp so với trung bình toàn quốc là khoảng 65%.
  • Tỷ lệ thất nghiệp vào tháng 11/2011 là 7.2%, cao hơn mức trung bình và cao hơn tỷ lệ toàn quốc là 5.2%.
  • Vào tháng 11/2011, có 90 000 người sinh ra ở Việt Nam đang làm việc ở Úc. Nghề nghiệp chính của họ là người lao động (19%), kỹ thuật viên và công nhân các ngành nghề (18%) và chuyên gia (17%).

Nhập cảnh thường trú và tạm nhập cảnh
Tóm tắt năm 2010-2011: Bổ sung thường xuyên cho dân số Úc 

Vào năm 2010-11, có 5060 bổ sung thường xuyên là người sinh ra ở Việt Nam gia nhập vào cư dân Úc. Trong số đó có những bổ sung mới:

  • Diện tay nghề gồm 747 người di cư có tay nghề, và 562 thành viên gia đình đi cùng và chiếm 26% trong tổng số bổ sung thường xuyên
  • Diện gia đình, gồm 3504 người di cư diện gia đình, và chiếm 69% trong tổng số bổ sung thường xuyên
  • Còn lại 4.5% trong tổng số bổ sung thường xuyên là những người di cư không theo chương trình chủ yếu nào, phần lớn những người di cư sinh ra ở Việt Nam nhập cảnh Úc với tư cách là công dân New Zealand.
  • Diện Chương trình nhân đạo và đủ tư cách đặc biệt chiếm ít hơn 1% trên tổng số.

Thị thực di dân thường trú đã được cấp:
Tổng cộng có 4709 công dân Việt Nam đã được cấp thị thực thường trú thông qua chương trình di trú của Úc vào năm 2010 – 2011. Trong số những người được cấp thị thực mới này:

  • Diện tay nghề chiếm 29% (1383 visa) của thị thực thường trú được cấp, với người di cư được người sử dụng lao động bảo trợ, chiếm nửa trong số này.
  • Diện gia đình chiếm 71% (3323 visa) của thị thực thường trú được cấp, với hơn 2/3 người nhập cảnh là vợ/chồng của cư dân Úc.

Những thị thực tạm nhập cảnh được cấp
Vào năm 2010-11, những thị thực tạm nhập cảnh được cấp cho công dân Việt Nam bao gồm:

  • 7131 thị thực du học, trong đó 2/3 (68%) được cấp cho những người có ý định theo đuổi một khóa học đại học và sau đại học ở Úc
  • 240 thị thực Business (Long stay) (Subclass 457) cho nhưng công nhân Việt Nam có tay nghề
  • 23 906 visa du lịch 

Phân tích chi tiết: Các thị thực di dân thường trú được cấp

Di dân tay nghề
Di dân tay nghề tập trung vào việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập cảnh thường trú của những người có thể đóng góp tích cực cho nước Úc thông qua những kỹ năng, bằng cấp, tinh thần kinh doanh và tiềm năng làm việc của họ.

Trong năm 2010-11:

  • 113.725 thị thực diện tay nghề đã được cấp, với những công dân Việt Nam, chiếm 1.2% (cấp 1.383) trên tổng số. So với năm 2009-10, thị thực diện kỹ năng cấp cho công dân Việt Nam nhiều hơn gấp đôi và chiếm gần 1/3 (29%) trong tất cả thị thực thường trú được cấp.
  • Việt Nam, quốc gia có nguồn di dân tay nghề đứng thứ 23 trong năm 2009-10, đã tăng lên vị trí 15

Theo xu hướng về thị thực dựa theo yêu cầu, những thị thực được bảo trợ bởi chủ sử dụng lao động đối với công dân Việt Nam tăng lên 82% (283 người).

Tuy nhiên, hầu hết sự tăng trưởng hoàn toàn về các thị thực tay nghề lại nằm trong số di dân tay nghề tổng quát theo nhu cầu cung cấp và được kiểm tra tính điểm. Đối với công dân Việt Nam, các thị thực diện tay nghề tổng quát nhiều hơn gấp đôi.

Kế toán, lập trình phần mềm và ứng dụng, kiến trúc sư, kiến trúc sư cảnh quan và y tá có đăng ký là một số trong những nghề chính cho những người có thị thực Di Dân Tay Nghề tổng quát mới.

Di dân diện gia đình
Di dân diện gia đình tạo điều kiện thuận lợi cho nhập cảnh đối với những thành viên gia đình trực hệ của công dân Úc, những thường trú nhân và những công dân New Zealand đủ tư cách. Chương trình hiện được chiếm ưu thế bởi những cặp vợ chồng và những đứa con phụ thuộc, nhưng cũng cung cấp lựa chọn cho những thành viên gia đình khác, như diện chăm sóc, cha mẹ và người thân phụ thuộc lớn tuổi.

Trong năm 2010-11:

  • 54 543 thị thực diện gia đình đã được cấp, với việc cấp cho công dân Việt Nam chiếm 6.1% (cấp 3323) trong tổng số.
  • Thị thực diện gia đình thường trú được cấp thông qua chương trình di trú là thấp hơn 9.5%, nhưng đối với công dân Việt Nam thì cao hơn 1.5%. Diện di dân gia đình chiếm hơn 7 trong 10 thị thực thường trú được cấp cho người Việt Nam
  • 78% của thị thực được cấp theo diện này dành cho vợ/chồng của cư dân Úc.

Thị thực tạm nhập cảnh được cấp

Sinh viên quốc tế
Chương trình thị thực sinh viên bao gồm một loạt các thị thực phù hợp với những lĩnh vực giáo dục. Sinh viên phải học tập với một nhà cung cấp giáo dục và với một khóa học đã đăng ký trong Commonwealth Register of Institute and Courses dành cho những sinh viên nước ngoài.

Năm 2010-11, việc cấp thị thực cho sinh viên đã giảm cho năm thứ 2 liên tiếp sau 11 năm tăng trường liên tiếp. Sự suy giảm tổng thể trùng hợp với nhiều nhân tố bao gồm: bất ổn tài chính toàn cầu đang diễn ra, các trường đại học đóng cửa, giá trị cao của đồng Đôla Úc, giới thiệu các biện pháp nhất quán thị thực sinh viên có tính chất thiết thực; và những thay đổi đối với chương trình di trú diện tay nghề. Kết quả của việc này là nhóm sinh viên quốc tế ở Úc vào 30/5/2011 rớt xuống còn 13%.

Tính đến 30/6/2011, có 16.340 người được cấp thị thực du học là người Việt Nam đã ở Úc, đại diện cho 4.9% trong tất cả những sinh viên quốc tế ở Úc, làm cho Việt Nam đứng thứ 4 thế giới có sinh viên nước ngoài học tập ở Úc.

Vào 2010-11, có 7.131 thị thực du học mới đã được cấp cho công dân Việt Nam, giảm 15% so với năm 2009-10, cao hơn 9.3% sự sụt giảm tổng thế trong thị thực sinh viên so với cùng kỳ. Từ năm 2008-09, đã có sự suy giảm 23% trong thị thực sinh viên được cấp cho công dân Việt Nam.

Visa diện công nhân kinh doanh (long stay) (subclass 457)
Chương trình visa 457 cho phép chủ sử dụng lao động ở Úc bảo trợ cho công nhân nước ngoài sang làm việc ở những vị trí quản lý, chuyên viên, kỹ thuật và những ngành nghề có tay nghề. Chương trình này là dựa theo nhu cầu và khá đáp ứng cao với những điều kiện của thị trường lao động ở Úc.

Sự tự tin về kinh doanh trở lại trong năm 2010-11 với sự gia tăng về nhu cầu đối với lao động nước ngoài theo chương trình này bất chấp những biến động đang diễn ra trong nền kinh tế toàn cầu. Việc cấp những loại thị thực này đã tăng 33% từ 67.980 vào năm 2009-10 lên 90.120 vào năm 2010-11.

Trong năm 2010-11, 240 thị thực subclass 457 đã được cấp cho công dân Việt Nam – Thấp hơn 37% so với năm 2009-10 và thấp hơn 81% so với số lượng thị thực được cấp năm 2008-09. Phần lớn sự giảm sút này có thể được giải thích bởi sự thay đổi nhu cầu nghề nghiệp.

Trong năm 2008-09, ví dụ, 220 công nhân làm chế biến thịt có tay nghề cao từ Việt Nam nhận được thị thực subclass 457, còn vào năm 2009-10 là 30 và không có ai vào năm 2010-11.

Trong số những công nhân Việt Nam được bảo trợ bởi chương trình này thì giảng viên đại học và người dạy kèm là nghề chính cho những chủ sử dụng lao động ở Úc tuyển dụng từ nước ngoài.

Khách du lịch
Vào năm 2010-11, 23.906 thị thực du lịch đã được cấp cho công dân Việt Nam. Đây là một sự suy giảm đáng kể với nhiều hơn 16% từ năm 2009-10. Lý do cho sự suy giảm này là sự suy giảm hơn 50% khách du lịch được bảo lãnh bởi gia đình.

Sự ra đi thường xuyên
Vào năm 2010-11, 1340 thường trú nhân sinh ra ở Việt Nam di cư từ Úc, với xấp xỉ khoảng 6 trong 10 người di cư cho thấy họ có ý định trở về Việt Nam, trong số những người di cư này:

Khoảng 16% là những chuyên gia và 9% là kỹ thuật viên và công nhân các ngành nghề.

Tiểu bang NSW là đại diện trong số nhóm người di cư này, chiếm 54% trong tổng số người di cư sinh ra ở Việt Nam nhưng chỉ chiếm 40% dân số của Úc sinh ra ở Việt Nam vào thời điểm điều tra năm 2006. Trong khi đó, bang Victoria, ngôi nhà của 37% dân số Úc sinh ra ở Việt Nam – chỉ có 25% người di cư năm 2010-11.

Các tiểu bang và vùng lãnh thổ có người gốc Việt sinh sống nhiều nhất
Tiểu bang NSW là tiểu bang phổ biến nhất cho việc cư trú của người Việt Nam ở Úc. 40% cư dân Úc sinh ra ở Việt Nam sinh sống ở tiểu bang NSW (theo điều tra năm 2006), theo sát sau là tiểu bang Victoria với 37%.

Những tiểu bang này cũng phổ biến với người di dân thường trú, với mỗi tiểu bang thu hút hầu như 40% người di dân diện gia đình – với người di dân diện tay nghề, tiểu bang Victoria nhận 35% và tiểu bang NSW là 26% trong năm 2010-11.

Trong số những nhóm di dân tạm trú, Victoria là điểm đến phổ biến. 44% sinh viên quốc tế là người Việt Nam đã đăng ký vào viện học thuật có cơ sở tại Victoria và 24% công nhân có visa 457 người Việt Nam được bảo trợ làm việc ở tiểu bang đó.

Giải thích thêm
Tỷ lệ thất nghiệp cho từng quốc gia có người di cư được tính toàn từ Cục thống kê Úc khảo sát lực lượng lao động hàng tháng (sử dụng dữ liệu đã công bố và không công bố) và đã tính trung bình trên 6 tháng để giải thích cho những biến động hàng tháng và một kích thước mẫu nhỏ. Tỷ lệ thất nghiệp quốc gia là con số được điều chỉnh theo mùa cho tháng 11 năm 2011.

Bổ sung thường xuyên là tổng số những người được cấp thị thực cư trú lâu dài trong thời gian ở Úc, và những người được cấp thị thực thông qua một nhiệm vụ của nước Úc ở nước ngoài, những người nhập cảnh Úc trong suốt
thời gian báo cáo tương ứng.

Cư dân Úc là những công dân Úc, những người cư trú tại Úc và những thường trú nhân khác.

Di dân có tay nghề tổng quát là tổng số của toàn bộ thị thực được bảo lãnh bởi gia đình có tay nghề, độc lập có tay nghề và các bang/vùng lãnh thổ.

Sự ra đi thường xuyên là những người báo về thẻ khởi hành đi nước ngoài của họ và họ rời khỏi Úc thường xuyên.

EAST WEST GROUP & Australia Business Migration Education Consulting Group (ABME)

iduhoc.edu.vn

 

Trích: ngày 26/11/2013

Xem thông tin thêm